Doanh nghiệp Việt Nam thích ứng nhanh hơn trên bản đồ thương mại mới

Khảo sát Global Trade Pulse 2025 của HSBC cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang thích ứng nhanh hơn trong việc hiểu rõ tác động chính sách, đẩy mạnh số hóa chuỗi cung ứng và mở rộng hành lang thương mại khu vực.

(CEO-talk.vn) – Nghiên cứu được HSBC thu thập ý kiến chuyên sâu về vấn đề thuế quan và thương mại từ 6.750 nhân sự có vai trò đưa ra quyết định tại doanh nghiệp ở 17 thị trường bao gồm 250 doanh nghiệp tại Việt Nam.

Dữ liệu chung cho thấy doanh nghiệp toàn cầu đang bước vào giai đoạn “thích nghi chủ động” với biến động thương mại khi chi phí tăng, thuế quan thay đổi và chuỗi cung ứng phân mảnh khiến chiến lược kinh doanh buộc phải linh hoạt hơn.

Nửa đầu năm 2025 nhiều thách thức khiến doanh nghiệp toàn cầu thận trọng hơn với dòng vốn. 67% doanh nghiệp quốc tế cho biết họ nắm bắt tốt hơn tác động của chính sách thương mại; 76% triển khai biện pháp ứng phó chi phí như đàm phán lại hợp đồng, chuyển giá hoặc đầu tư cho tự động hóa.

84% doanh nghiệp toàn cầu tập trung đa dạng hóa chuỗi cung ứng để giảm thiểu rủi ro thương mại; 50% có kế hoạch gia nhập thị trường mới dù 66% dự đoán chi phí sẽ tiếp tục tăng trong 6 tháng tới.

Khảo sát cũng cho thấy có 22% doanh nghiệp lo doanh thu sẽ giảm mạnh trên 25%, thấp hơn so với mức 37% doanh nghiệp trong cuộc khảo sát sáu tháng trước. Hầu hết các công ty kỳ vọng doanh thu sẽ tăng trong sáu tháng tới (53%) và trong vòng hai năm tới (58%).

Những thay đổi này là tín hiệu cho thấy mô hình thương mại mới đang hình thành, khiến doanh nghiệp chuyển từ phản ứng sang chủ động thiết kế lại chuỗi giá trị.

thương mại
Trong bối cảnh thương mại còn nhiều biến số, khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt Nam là một lợi thế.
Doanh nghiệp Việt Nam: tốc độ thích ứng nhanh hơn

Trong bối cảnh chung, doanh nghiệp Việt Nam nổi lên như một nhóm có năng lực điều chỉnh nhanh, hiểu rõ hơn tác động chính sách và chủ động tái cấu trúc để gia tăng sức bền.

Trong 250 doanh nghiệp Việt Nam tham gia khảo sát, phần lớn cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc phản ứng với thay đổi thương mại. 73% cho biết “thông suốt hơn” về tác động chính sách thương mại so với 67% toàn cầu.

Khi bất ổn thuế quan dần lắng xuống, chỉ còn 15% doanh nghiệp lo lắng doanh thu sẽ giảm mạnh trong hai năm tới, thấp hơn mức 20% trong cuộc khảo sát sáu tháng trước.

Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp Việt Nam đang gia tăng xử lý thách thức bằng công nghệ với 90% đã hoặc đang cân nhắc ứng dụng AI/ML để tối ưu tồn kho, dự báo nhu cầu hoặc kiểm soát rủi ro.

Có đến 92% cho biết đang tăng cường đầu tư dữ liệu để cải thiện khả năng dự báo và hơn 90% tái cấu trúc quy trình nội bộ nhằm tạo sức bền vận hành. Đây là nhóm doanh nghiệp có tốc độ số hóa chuỗi cung ứng nhanh nhất trong khảo sát.

Tuy nhiên, áp lực tài chính vẫn hiện hữu với doanh nghiệp cao hơn khi 46% ghi nhận áp lực dòng tiền “trong tầm kiểm soát”; 21% từng trải qua thiếu thanh khoản đáng kể từ năm 2024.

“Điều này cho thấy biến động thương mại không chỉ ở câu chuyện thuế quan mà là bài toán vốn lưu động – một yếu tố đang dần trở thành đòn bẩy chiến lược”, theo nhận định của HSBC.

Bản đồ thương mại mới nghiêng về châu Á

Khảo sát cũng phản ánh một mô hình thương mại khu vực hóa rõ rệt. Các doanh nghiệp quốc tế đang mở rộng sang châu Âu (40%) và Đông Nam Á (36%), trong khi doanh nghiệp châu Á ưu tiên tăng phụ thuộc vào ASEAN (41%), Đông Bắc Á (34%) và Nam Á (29%).

Với vai trò là một trong những trung tâm sản xuất – dịch vụ mới của khu vực, Việt Nam đang được hưởng lợi từ sự dịch chuyển này.

Doanh nghiệp Việt Nam cũng chủ động khai thác các hành lang thương mại mới. Xuất khẩu tăng ở các thị trường lớn như Singapore, Trung Quốc đại lục, Pháp, Thái Lan và Nhật Bản.

Nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 500 triệu đến 2 tỉ USD dẫn đầu về mở rộng phụ thuộc vào thị trường Đông Nam Á và Đông Bắc Á, được xem là chiến lược phù hợp với xu thế nội vùng hóa thương mại.

Niềm tin của doanh nghiệp Việt Nam vào triển vọng thương mại quốc tế cũng rất cao với 90% kỳ vọng tăng trưởng trong hai năm tới, vượt nhẹ mức trung bình toàn cầu (87%).

Kết quả khảo sát chỉ ra doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển từ “thích nghi thụ động” sang “tái cấu trúc chủ động”. Ba điểm nổi bật: rõ ràng hơn về chính sách, từ đó giảm lo ngại doanh thu và hoạch định được bước đi dài hạn.

Đẩy nhanh số hóa chuỗi cung ứng là yếu tố trung tâm để tăng sức bền và mở rộng hiện diện thương mại khu vực phù hợp với xu hướng nội vùng hóa tại châu Á.

“Trong bối cảnh thương mại còn nhiều biến số, khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt Nam đang trở thành lợi thế cạnh tranh mới,” báo cáo nhận định.

———————————–

Đọc thêm>>
Bất chấp thuế quan, thương mại 9 tháng tiếp tục lập kỷ lục mới
Ngành khách sạn giai đoạn tái định vị tài sản và nâng chuẩn vận hành
3 thử thách thế hệ do già hóa dân số: Áp lực tài khóa, tài chính và xã hội
Việt Nam: Thị trường tiềm năng cần vốn cầu nối để mở rộng tăng trưởng

Xem thêm

Du lịch trước bài toán 25 triệu lượt khách quốc tế năm 2026

Sau 9 tháng, Việt Nam đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Cùng với 126 triệu lượt khách nội địa và khoảng 874.000 tỉ đồng tổng thu, du lịch tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, mục tiêu 25 triệu khách quốc tế đang đặt ra yêu cầu tăng tốc đáng kể trong Q4.

World Bank nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 7,4%, AI tạo động lực mới

World Bank nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 lên 7,4%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với dự báo hồi tháng 4. Sản xuất và xuất khẩu hàng công nghệ cao, đặc biệt các sản phẩm liên quan đến AI, được đánh giá là một trong những động lực giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao hơn kỳ vọng.

Muốn AI lên quy mô lớn, doanh nghiệp phải giải bài toán quản trị

Doanh nghiệp đang đặt kỳ vọng ngày càng lớn vào AI, từ tăng đầu tư đến mở rộng các tác nhân AI và quy trình tự động. Tuy nhiên, tỷ lệ dự án đạt kết quả kinh doanh kỳ vọng lại giảm trong khi mức độ phức tạp của AI ngày càng tăng.

Chủ tịch VNG Lê Hồng Minh: Khi AI “mở khóa” năng lực cá nhân, doanh nghiệp cũng phải thay đổi

Theo ông Lê Hồng Minh, Sáng lập và Chủ tịch VNG, doanh nghiệp không nên chỉ nhìn AI qua những bài toán ROI hay tối ưu một vài quy trình. Giá trị lớn hơn của AI nằm ở khả năng thay đổi cách mỗi cá nhân làm việc, từ đó hình thành năng lực mới cho cả tổ chức.

90% ghi nhận AI giúp tăng năng suất nhưng chỉ 15% tác động tăng doanh thu

AI dù đã phổ biến trong doanh nghiệp nhưng vẫn còn khoảng cách lớn từ ứng dụng đến triển khai ở quy mô lớn và tạo ra giá trị kinh doanh, theo Khảo sát thực trạng ứng dụng AI trong doanh nghiệp Việt Nam do 3HORIZONS và CIO Vietnam thực hiện.