Thị trường carbon: Từ giao dịch tín chỉ đến bài toán chuỗi giá trị

Theo PwC, khi phát thải được định giá, carbon trở thành một biến số trong chi phí, sản xuất và thương mại. Việc xây dựng thị trường carbon Việt Nam vì thế không chỉ là thiết lập một sàn giao dịch, đó còn là bài toán chuỗi giá trị từ dữ liệu, đo lường, xác minh đến công nghệ giảm phát thải và năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

(CEO-Talk.vn) – Việt Nam đang từng bước xây dựng thị trường carbon như một công cụ kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các thị trường đã vận hành cho thấy giá trị của thị trường carbon không chỉ ở giao dịch tín chỉ mà rộng hơn là tạo ra động lực kinh tế để doanh nghiệp giảm phát thải và tái cấu trúc hoạt động theo hướng carbon thấp.

Theo dữ liệu PwC dẫn từ World Bank, hiện có 75 công cụ định giá carbon đang hoạt động trên thế giới, bao phủ khoảng 24% lượng phát thải toàn cầu. Hai mô hình phổ biến là thuế carbon và hệ thống mua bán phát thải (ETS).

Với ETS, cơ quan quản lý đặt ra tổng hạn mức phát thải và phân bổ hoặc bán quyền phát thải cho doanh nghiệp. Cơ chế này về bản chất để đưa một mức giá vào phát thải, đưa carbon vào quyết định đầu tư và vận hành doanh nghiệp.

Điều đáng chú ý, khi carbon có giá, tác động không chỉ trực tiếp tại doanh nghiệp chịu nghĩa vụ phát thải mà có thể lan dọc toàn bộ chuỗi giá trị.

Carbon đi vào chuỗi giá trị doanh nghiệp

Một doanh nghiệp sản xuất có thể kiểm soát lượng phát thải trực tiếp tại nhà máy, nhưng phần đáng kể dấu chân carbon lại phát sinh bên ngoài phạm vi hoạt động trực tiếp: từ nguyên liệu, năng lượng, nhà cung cấp đến vận tải, phân phối và xử lý sản phẩm sau sử dụng.

Điều này khiến quản trị carbon ngày càng gắn với quản trị chuỗi cung ứng. PwC lưu ý doanh nghiệp cần lập bản đồ phát thải trong toàn bộ quá trình sản xuất, bao gồm cả chuỗi cung ứng thượng nguồn. Với những doanh nghiệp có hàng ngàn nhà cung cấp sẽ là bài toán không đơn giản.

Tuy nhiên, phân tích của PwC cho thấy trong một số trường hợp, khoảng 80% phát thải chuỗi cung ứng có thể tập trung ở chỉ 20% giá trị mua hàng. Điều này cho phép doanh nghiệp xác định các “điểm nóng” phát thải để ưu tiên xử lý thay vì phải thu thập dữ liệu dàn trải.

Theo cách tiếp cận đó, giảm phát thải không còn giới hạn ở việc thay đổi công nghệ bên trong nhà máy. Doanh nghiệp có thể phải xem xét lại nguồn nguyên liệu, nguồn điện, nhà cung cấp, phương thức vận tải và cả thiết kế sản phẩm.

thị trường tín chỉ carbon
Nguồn: PwC

Ở chiều ngược lại, các nhà cung cấp muốn duy trì vị trí trong chuỗi của những tập đoàn lớn cũng ngày càng phải chứng minh được lượng phát thải gắn với sản phẩm.

Xu hướng này được thúc đẩy bởi những yêu cầu mới từ các thị trường lớn. Chẳng hạn, các quy định về báo cáo phát triển bền vững tại EU mở rộng việc xem xét phát thải sang Scope 3 – lượng phát thải phát sinh từ các hoạt động thượng nguồn và hạ nguồn trong chuỗi giá trị.

Theo PwC, Scope 3 có thể chiếm 65-95% tác động carbon của một doanh nghiệp, theo đó một nhà cung cấp Việt Nam dù không trực tiếp thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định nước ngoài vẫn có thể phải cung cấp dữ liệu phát thải cho khách hàng hoặc công ty mẹ tại những thị trường này.

Cùng với đó, các cơ chế như CBAM của EU đang đưa carbon đến gần hơn bài toán thương mại. Khi chi phí phát thải được phản ánh vào hàng hóa, khả năng đo lường và giảm carbon không còn chỉ là vấn đề ESG mà có thể tác động đến giá thành và sức cạnh tranh.

Carbon theo đó đang dần trở thành một biến số của chuỗi giá trị, bên cạnh lao động, năng lượng, logistics và vốn.

Giá trị không chỉ ở tín chỉ

Báo cáo của PwC cũng chỉ ra cách nhìn phổ biến về thị trường carbon là cơ hội tạo ra tín chỉ để giao dịch. Nhưng nếu nhìn theo chuỗi giá trị, hoạt động mua bán nằm ở phần cuối của một hệ sinh thái rộng hơn.

Ở đầu chuỗi là đo lường phát thải, kiểm kê khí nhà kính và xây dựng dữ liệu. Tiếp đó là xác định các khu vực có thể cắt giảm phát thải, đầu tư công nghệ, năng lượng tái tạo, cải tiến quy trình; phát triển dự án tạo tín chỉ; đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV); đăng ký và xác nhận tín chỉ. Tiếp đó mới đến giao dịch, thanh toán và sử dụng tín chỉ.

Xung quanh chuỗi này còn cần cả hệ sinh thái dịch vụ tư vấn, kiểm toán – xác minh, công nghệ dữ liệu, tài chính xanh, bảo hiểm, giao dịch và quản trị rủi ro.

Vì vậy, giá trị kinh tế của thị trường carbon không chỉ ở tín chỉ mà còn ở khả năng giảm hàm lượng carbon của sản phẩm và doanh nghiệp.

Một nhà sản xuất đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng có thể đồng thời giảm chi phí vận hành, giảm nghĩa vụ carbon và cải thiện khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế. Một nhà cung cấp chứng minh được sản phẩm có hàm lượng carbon thấp hơn cũng có thể củng cố vị trí trong chuỗi cung ứng.

Theo PwC, điều này đòi hỏi doanh nghiệp chuyển cách tiếp cận từ tuân thủ sang tạo giá trị, xem giảm phát thải không chỉ là nghĩa vụ mà còn là một phần của chiến lược cạnh tranh.

Việt Nam cần gì ngoài một sàn giao dịch carbon?

Với Việt Nam, phát triển thị trường carbon nhằm huy động thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh. PwC ước tính Việt Nam có thể cần tới 473 tỉ USD để ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết Net Zero.

Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy có một sàn giao dịch chưa đồng nghĩa với hình thành được một thị trường carbon hiệu quả.

Nền tảng dữ liệu và hệ thống đo lường đáng tin cậy. Carbon chỉ có thể trở thành một loại tài sản hoặc chi phí có thể định giá khi lượng phát thải và lượng giảm phát thải được đo lường chính xác. Vì vậy, hệ thống MRV minh bạch cùng năng lực xác minh độc lập là điều kiện quan trọng để thị trường vận hành.

Yêu cầu chuẩn hóa phương pháp. Chi phí xác minh cao và yêu cầu kỹ thuật phức tạp có thể trở thành rào cản, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Một yếu tố khác là tín hiệu giá. Giá carbon quá thấp khó tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ giảm phát thải, trong khi mức giá tăng quá nhanh có thể tác động đến khả năng cạnh tranh của các ngành sử dụng nhiều năng lượng. Thiết kế thị trường vì vậy phải cân bằng giữa mục tiêu môi trường và khả năng thích ứng của nền kinh tế.

Kết nối với nguồn vốn chuyển đổi xanh. Việc giảm phát thải thường đòi hỏi đầu tư trước vào công nghệ, năng lượng và quy trình sản xuất, các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh hay tài chính hỗn hợp có thể trở thành những mắt xích hỗ trợ quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp.

Nếu chỉ bắt đầu hành động khi phát sinh nghĩa vụ mua hạn ngạch hoặc trả chi phí carbon, giảm phát thải dễ trở thành một khoản chi phí tuân thủ. Ngược lại, doanh nghiệp sớm xác định dấu chân carbon, nhận diện các “điểm nóng” phát thải trong chuỗi cung ứng và đầu tư giảm phát thải mới có thêm khả năng thích ứng với yêu cầu của khách hàng và thị trường xuất khẩu.

Do đó, câu hỏi đặt ra không chỉ thời gian sàn giao dịch carbon vận hành hay một tín chỉ carbon có giá bao nhiêu. Quan trọng hơn là khả năng xây dựng được chuỗi giá trị phía sau thị trường: từ dữ liệu, MRV, xác minh, công nghệ giảm phát thải, nguồn vốn đến một cơ chế giao dịch minh bạch và có khả năng kết nối với chuẩn mực quốc tế.

——————————————–

Đọc thêm >>
13 doanh nghiệp Việt góp mặt trong chương trình tài chính khí hậu của Anh
ESG tại Việt Nam: Cam kết lan rộng nhưng thực thi còn khoảng trống
Hoa Kỳ – Việt Nam công bố sáng kiến ESG thúc đẩy kinh tế tư nhân bền vững

Xem thêm

11 doanh nghiệp công nghệ khí hậu Việt Nam tìm vốn hơn 120 triệu USD

Hoạt động trong các lĩnh vực năng lượng sạch, giao thông điện, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp bền vững, 11 doanh nghiệp tham gia Chương trình Thúc đẩy Tài chính Khí hậu Việt Nam năm 2026 có nhu cầu huy động hơn 120 triệu USD trong ba năm tới.

Xuất khẩu bán dẫn tăng 32% mỗi năm, Việt Nam nổi lên trong chuỗi cung ứng chip châu Á

Theo báo cáo do Frost & Sullivan thực hiện cho FedEx, xuất khẩu sản phẩm bán dẫn của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kép 31,8% mỗi năm trong giai đoạn 2006-2025. Cùng với sự phát triển của AI và xe điện, Việt Nam đang có thêm cơ hội mở rộng vai trò trong hoạt động lắp ráp, đóng gói và kiểm thử bán dẫn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

F88 lãi vượt ngàn tỉ trong 9 tháng, gần cán đích lợi nhuận cả năm

Lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm của F88 tăng hơn 80% so với cùng kỳ, đạt 1.087 tỉ đồng. Doanh nghiệp kỳ vọng lợi nhuận cả năm đạt 1.500 tỉ đồng, vượt khoảng 32% kế hoạch được cổ đông thông qua.

“Tháng 11 Kỹ thuật số 2026” lần đầu đến Việt Nam, kết nối nghệ thuật và công nghệ

Với chủ đề “Giữa dòng”, Tháng 11 Kỹ thuật số 2026 diễn ra từ ngày 23.10 đến 29.11 tại TP.HCM, quy tụ các hoạt động nghệ thuật số, thực tế ảo, trình diễn đa phương tiện và đối thoại về vai trò của trí tuệ nhân tạo trong sáng tạo đương đại.

Tập đoàn Oji đầu tư 110 triệu USD xây nhà máy bao bì tại Đồng Nai

Với công suất thiết kế tối đa 8 tỉ hộp giấy tiệt trùng mỗi năm, nhà máy Oji Liquid Pak dự kiến vận hành từ năm 2028, phục vụ ngành thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam và mạng lưới cung ứng của tập đoàn Nhật Bản tại châu Á.