PET, FPT: Vẽ lại bản đồ phân phối điện thoại

Thị trường điện thoại di động có doanh số hàng năm hơn 1 tỉ đô la Mỹ (22.000 tỉ đồng), nhưng vòng đời sản phẩm ngắn dần, mức giá trung bình giảm nhanh đẩy số lượng tiêu thụ hàng năm tăng nhanh. Việc cạnh tranh kênh bán hàng giữa nhà sản xuất, nhà phân phối và bán lẻ khiến thị trường này luôn hấp dẫn.

Link dẫn

(Sài Gòn Tiếp Thị 11/07/2012) – Dù tổng công ty dịch vụ tổng hợp dầu khí (Petrosetco – PET) cuối tuần rồi ra văn bản phản hồi cho cổ đông về thông báo ngừng hợp tác của Nokia từ ngày 5.8 tới, thì việc “chia tay” sau năm năm hợp tác cũng khó thay đổi.

PET xác nhận mảng phân phối điện thoại di động do công ty con PSD kinh doanh đạt hiệu quả cao; hợp đồng PSD ký với Nokia Sales International Oy có hiệu lực đến 31.12.2012, do đó việc phân phối vẫn đang bình thường.

Tìm thế đối trọng

Tuy nhiên, thông tin PSD rời bỏ Nokia để làm đối tác phân phối Samsung xuất hiện đã khá lâu, dù cả Samsung và PSD đều chưa xác nhận. Hợp đồng năm 2007, vào giai đoạn thịnh vượng của hãng điện thoại Phần Lan Nokia, PSD được chọn nhằm tạo thế đối trọng với nhà phân phối lớn FPT với cam kết không phân phối cho đối tác có cùng sản phẩm.

Sự suy giảm của Nokia trên thị trường có thể tác động sớm đến quyết định của PSD. Từ năm 2011, Smartcom – công ty con cũng thuộc PET, lần lượt phân phối điện thoại Sony, LG và Huawei nhằm tận dụng kênh và giảm rủi ro nếu “bỏ cả trứng vào một giỏ”.

Sơ đồ các nhà phân phối điện thoại chính tại thị trường Việt Nam

Tại Việt Nam, xét về số lượng, điện thoại Nokia đang chiếm khoảng 50% nhưng doanh số thấp dần do bị yếu sức ở phân khúc trung và cao cấp; phân khúc phổ thông vốn là thế mạnh cũng bị cạnh tranh khốc liệt. Năm 2011, PSD phân phối hơn 5,9 triệu điện thoại Nokia, doanh số 5.200 tỉ đồng và lợi nhuận 134 tỉ đồng, chiếm gần 50% tổng doanh thu của PET.

Nokia cho biết sau khi ngưng hợp tác với PSD sẽ mở rộng thị phần cho FPT và Lucky, trong đó FPT nắm từ Bắc Trung bộ trở ra và Lucky từ Nam Trung bộ trở vào. Ông William Hamilton – Whyte, phó chủ tịch Nokia Đông Dương và Philippines, cho biết: “Nokia sẽ cải tiến quy trình vận hành để đạt mạng lưới phân phối tối ưu và củng cố vị trí dẫn đầu tại Việt Nam”.

Có thể nói mảng phân phối điện thoại cạnh tranh chuyên nghiệp hơn từ năm 2007, khi cả nhà phân phối và nhà sản xuất đều nỗ lực tìm đối trọng để phá thế phụ thuộc. Tuy nhiên kênh phân phối điện thoại di động biến động mạnh kể từ 2009, khi các công ty nước ngoài được quyền kinh doanh phân phối trực tiếp theo cam kết WTO. Các hãng dần nắm thế chủ động, mở rộng mạng lưới đối tác bao phủ thị trường và tránh sức ép của nhà phân phối.

Từ dọc sang ngang

Mô hình phân phối theo đó dịch chuyển từ hàng dọc sang hàng ngang. Các hãng bán hàng trực tiếp theo các thỏa thuận tuỳ vào thế mạnh từng đối tác thay vì chỉ gắn với nhà phân phối chính. Bản đồ này tạo ra các thế đối trọng giữa nhà cung cấp – phân phối – nhà mạng – chuỗi bán lẻ – các đối tác/đại lý…

Ông Nguyễn Hồng Châu, trưởng đại diện HTC Việt Nam, cho biết điện thoại HTC phân phối theo hệ thống FPT xuống các cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc theo chiến lược tập trung mạnh vào phân khúc cao cấp và nhân rộng các smartphone tầm trung trên thị trường. Song song đó, HTC kết hợp với các nhà mạng để đưa sản phẩm đến người dùng qua kênh phân phối này.

Tương tự, bộ phận Sony Mobile tại Việt Nam đã được thành lập sẽ vừa bán hàng trực tiếp cho đối tác, vừa phân phối qua Smartcom, mặt khác sẽ tăng độ phủ tại 16 trung tâm bán hàng kết hợp với các đối tác (Sony Center), dự kiến sẽ nâng lên 20 trung tâm trong năm nay.

Samsung sau khi rời bỏ các nhà phân phối chính như FPT, Phú Thái đã mở rộng hệ thống với hơn 30 đối tác và chia kênh theo các cấp gồm các khách hàng lớn và các đại lý theo vùng. Theo ông Nguyễn Văn Đạo, phó tổng giám đốc Samsung Vina, mô hình phân phối hiện nay đã khác trước nhiều do chuyển từ kênh dọc sang hàng ngang, các đối tác lớn có thể mua hàng trực tiếp cho kênh riêng của mình…

“Mô hình này hiệu quả hơn bởi mở rộng kênh nhanh, kiểm soát thị trường tốt hơn để có thể can thiệp kịp thời, tránh tập trung vào một nhà phân phối vốn rất dễ bị phụ thuộc.” ông Đạo nói.

Hệ thống PSD phân phối qua 11 chi nhánh với khoảng 1.000 đối tác trên cả nước, chia theo khối khách hàng lớn (key account) với khoảng mười đối tác cùng với kênh từ 2 – 4 nhà phân phối thứ cấp “cắm” tại mỗi tỉnh thành tuỳ theo độ phủ. PSD cho biết kênh này sẽ dẫn hàng đến các cửa hàng nhỏ lẻ theo khu vực phân cấp và có những ràng buộc để tránh chồng chéo, cũng giống như nhà cung cấp ràng buộc nhà phân phối.

Thị phần điện thoại di động năm 2011 tính theo doanh số (%)

Các nhà phân phối, bán lẻ lại bị tác động lớn từ chiến lược sản phẩm của nhà sản xuất vốn thay đổi rất nhanh, buộc họ phải thích ứng nhanh. Ông Đinh Anh Huân, phó tổng giám đốc công ty Thế Giới Di Động, phân tích: cho dù các hãng bán trực tiếp thì các đại lý cũng phải chọn hàng từ nhiều nguồn để giữ thế đối trọng.

Nếu các hãng thông qua các chuỗi bán lẻ lớn để tận dụng kênh cạnh tranh bán hàng, cung cấp dịch vụ và tư vấn cho người dùng, thì họ cũng phải thông qua nhà phân phối để tận dụng độ phủ. Chính vì thế một chuỗi bán lẻ hay đại lý dù lớn đến đâu cũng không thể thay thế nhà phân phối.

Thị trường điện thoại di động trước nay luôn cạnh tranh mạnh ở phân khúc trung và cao cấp, tập trung tại các khu vực có sức mua cao. Nhưng đến nay, các dòng smartphone Android 4.0, màn hình 3,2 inch, mức giá 2 – 3 triệu đồng từ nhiều nhà cung cấp nhỏ hơn đang lấn dần về các vùng xa, các hãng buộc phải “đua hệ điều hành” bằng độ phủ để không mất phần trong miếng bánh lớn của thị trường.

Nhà phân phối mạnh cạnh tranh bằng lợi thế kênh riêng với mạng lưới cửa hàng nhỏ lẻ đến tận phường xã mà khó nhà cung cấp nào bao phủ được. Phần thắng sẽ thuộc về công ty có chi phí cạnh tranh, khả năng bao phủ, hệ thống kho vận sâu rộng, giao hàng nhanh, tín dụng tốt và hỗ trợ đối tác hiệu quả… Một đối tác mạnh về phân phối điện thoại có thể là “xa lộ” phân phối các sản phẩm dịch vụ công nghệ khác buộc các hãng phải tìm kiếm.

—————————————————–

Đọc thêm
Cuộc đua chuyển ứng dụng web lên tivi, điện thoại
Thanh toán điện tử: “Đại gia” Nhật vào thị trường Việt Nam
Càng di động càng phải kinh doanh thông minh
Toàn cảnh thị trường ICT: Một năm nhiều biến động

Xem thêm

NAPAS và Payoo mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới cho khách quốc tế

NAPAS và Payoo mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán VietQRGlobal tại các sân bay và trung tâm thương mại, trong bối cảnh lượng khách quốc tế đến Việt Nam và giao dịch thanh toán QR xuyên biên giới tiếp tục tăng trưởng.

30 năm Cargill Cares: 7 triệu USD đầu tư cho giáo dục nông thôn Việt Nam

Sau 30 năm triển khai chương trình Cargill Cares, tập đoàn Cargill đã huy động khoảng 7 triệu USD để xây dựng 129 điểm trường tại 32 tỉnh thành trong mục tiêu nâng số điểm trường lên 150 cùng 100 thư viện và sân chơi vào năm 2030.

EVNNPC vay “vốn xanh” 105 triệu USD từ 15 tổ chức tài chính quốc tế

Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) vừa huy động thành công khoản vay xanh hợp vốn quốc tế trị giá 105 triệu USD, kỳ hạn 8 năm, do HSBC thu xếp. Nguồn vốn sẽ được đầu tư vào hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại 70 trạm biến áp 110 kV ở miền Bắc, góp phần nâng cao độ ổn định của lưới điện và đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng tăng.

S&I Ratings: Lãi suất tiến sát đỉnh, thị trường trái phiếu đối diện sức ép tái cấp vốn

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Q3.2026 ghi nhận giá trị phát hành giảm 26% so với quý trước, trong khi lãi suất tiếp tục tăng và áp lực đáo hạn dồn về cuối năm. Theo S&I Ratings, nhu cầu huy động vốn và tái cấp vốn vẫn hỗ trợ triển vọng trung hạn, song chi phí vốn cao sẽ tiếp tục là thách thức đáng kể đối với doanh nghiệp.

11 doanh nghiệp công nghệ khí hậu Việt Nam tìm vốn hơn 120 triệu USD

Hoạt động trong các lĩnh vực năng lượng sạch, giao thông điện, kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp bền vững, 11 doanh nghiệp tham gia Chương trình Thúc đẩy Tài chính Khí hậu Việt Nam năm 2026 có nhu cầu huy động hơn 120 triệu USD trong ba năm tới.